Thực trạng cốt nền hiện nay ra sao? Đâu là nguyên nhân chính khiến cho đô thị Việt Nam lại có sự cao thấp, ngập úng nghiêm trọng, sau mỗi trận mưa lớn như hiện nay?
Những quy định “có như không”
Không sống ở “rốn lũ” miền Trung, nhưng người dân thị thành như
Hà Nội và TP Hồ Chí Minh luôn phải chứng kiến cảnh ngập lụt nghiêm trọng mỗi
khi mưa lớn xảy ra. Những biến tấu, “Em ơi, Hà Nội phố” hay “Hà Nội mùa này phố
cũng như sông” đã trở nên quen thuộc thậm chí trở thành “đặc sản” chỉ sau vài
tiếng mưa rào tại Thủ đô. Có thể nhìn rõ thực tế này tại các “điểm nóng” về
ngập úng như Khu đô thị Văn Quán (Hà Đông); Khu ĐTM Mỹ Đình – Mễ Trì; Khu đô
thị Tây Hồ Tây hay khu vực Keangnam; Nam Trung Yên… Lỗi do quy hoạch, do hạ
tầng bị bức tử , do mua nhà thu nhập thấp hay là vì việc cấp cao độ nền xây dựng có “vấn đề”?
Khảo sát của PV cho thấy, tại Hà
Nội, các dự án chung cư mới như Royal City, Time City có cao độ nền cao hơn các
khu vực dân cư lân cận; Khu đô thị Tây Hồ Tây có cao độ nền thiếu thống nhất và
thiếu kết nối, cụ thể như việc kết nối giữa hai dự án Khu Ngoại Giao Đoàn và
Khu trung tâm đô thị Tây Hồ Tây đã hoàn thành nhưng đang chênh khoảng 0,3 đến
0,4m.
Theo thống kê của Sở Xây dựng Hà Nội, tính đến tháng 6/2017 trên
toàn thành phố có 384 dự án khu đô thị mới và nhà ở đang trong giai đoạn thực
hiện đầu tư với diện tích khoảng 8.963,91 ha (khoảng 120 dự án khu đô thị mới
quy mô lớn hơn 50 ha và 27 dự án được triển khai sau khi Quy hoạch chung xây
dựng Thủ đô Hà Nội giai đoạn 2030 tầm nhìn 2050 (QH1259). Hiện sự chênh lệch
cốt nền xây dựng giữa các khu đô thị mới và các đô thị cũ nội đô đang là nguyên
nhân chính khiến cho việc ngập úng đang ngày càng trở nên nghiêm trọng.
Trở lại những quy định về cao độ nền xây dựng, hệ thống Luật,
Nghị định và các thông tư hướng dẫn hiện nay đã quy định rất rõ về nội dung quy
hoạch, quản lý cao độ nền. Theo đó, Cao độ nền xây dựng đô thị (hay cao độ nền,
cao độ khống chế, cốt nền) xác định nhằm đảm bảo không ngập lụt và thoát nước
đô thị, được xác định trong toàn đô thị cho từng khu vực, lô đất, trục đường
phố chính trong đồ án quy hoạch đô thị.
Xác định cao độ nền là một nội dung trong định hướng quy hoạch
hạ tầng kỹ thuật của đồ án quy hoạch xây dựng, quy hoạch đô thị (bao gồm quy
hoạch chung, quy hoạch phân khu, quy hoạch chi tiết). Việc xác định mức độ chi
tiết cao độ nền đô thị được xác định cụ thể đối với từng đồ án quy hoạch đô
thị.
Điều 3, Luật Xây dựng 2014 đã quy định rõ: Cốt xây dựng là cao
độ xây dựng tối thiểu bắt buộc phải tuân thủ được chọn phù hợp với quy hoạch về
cao độ nền và thoát nước mưa
Khoản 2, Điều 37 Luật Quy hoạch đô thị 2009 cũng quy định: Quy
hoạch cao độ nền và thoát nước mặt đô thị bao gồm việc xác định khu vực thuận
lợi cho việc xây dựng trong từng khu vực và đô thị; xác định lưu vực thoát nước
chính, khu vực cấm và hạn chế xây dựng, cốt xây dựng, mạng lưới thoát nước mặt
và công trình đầu mối; giải pháp phòng tránh và giảm nhẹ thiệt hại do thiên
tai.
Còn Điều 23, Nghị định số 37/2010/NĐ-CP về lập, thẩm định, phê
duyệt và quản lý Quy hoạch đô thị nêu rõ: Xác định khu vực xây dựng thuận lợi,
khu vực cấm và hạn chế xây dựng của đô thị; xác định lưu vực thoát nước chính,
cao độ nền, cốt xây dựng, mạng lưới thoát nước mặt và công trình đầu mối; giải
pháp phòng tránh và giảm nhẹ thiệt hại do thiên tai cho toàn đô thị.
Việc lập, thẩm định, phê duyệt cao độ nền và thoát nước mặt tuân
thủ các quy định của QH xây dựng, QH đô thị.
Chương III, Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về Quy hoạch xây dựng
QCVN 01: 2008/BXD quy định về yêu cầu xác định cốt xây dựng khống chế đối với
quy hoạch chuẩn bị kỹ thuật trong quy hoạch chung, quy hoạch phân khu, quy
hoạch chi tiết. Yếu tố quyết định đến cao độ nền là mực nước tính toán cao nhất
theo tần suất (năm) được xác định đối với từng loại đô thị (như đô thị đặc
biệt, loại I là 100 năm; loại II là 50 năm...). Ngoài ra, cần xem xét đến điều
kiện địa chất, thủy văn và các yếu tố thiên tai đặc thù đối với các khu vực xây
dựng đô thị…
Như vậy, đối chiếu các quy định pháp luật đã nêu, thì việc quản
lý, cấp cao độ nền có được thực hiện theo quy định hay không? Nếu có, tại sao
lại xảy ra nhiều bất cập như hiện nay?
Bất cập chồng bất cập
Thực tế cho thấy, cao độ nền đô thị là một nội dung trong quy
hoạch đô thị (quy hoạch chung, quy hoạch phân khu, quy hoạch chi tiết). Tuy
nhiên, việc triển khai lập, thẩm định, phê duyệt nội dung về cao độ nền đô thị
còn bị hạn chế về cơ sở khoa học, thiếu tài liệu, chuỗi số liệu, năng lực tư
vấn chưa đáp ứng.
Theo rà soát của Cục Hạ Tầng Kỹ thuật (Bộ Xây dựng): Đối với các
đô thị loại đặc biệt, loại I (hoặc các đô thị tỉnh lỵ từ loại III nếu cần
thiết), đồ án quy hoạch chuyên ngành hạ tầng kỹ thuật được lập riêng sau khi đồ
án quy hoạch chung đô thị được phê duyệt. Tuy nhiên, thực tế, các đô thị lớn
như Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh chỉ lập đồ án quy hoạch thoát nước, quy hoạch thoát
nước, chống ngập... Hầu như chưa có đô thị nào đã lập, phê duyệt quy hoạch cao
độ nền và thoát nước mặt đô thị. Trong khi đó, về bản chất cao độ nền đô thị là
cơ sở tránh ngập úng cũng như quyết định hướng thoát nước mặt đô thị
Cục Hạ tầng cũng chỉ ra hàng loạt những bất cập liên quan đến
cao độ nền xây dựng. Cụ thể, đối với nội dung cao độ nền đô thị được triển khai
trong các quy hoạch phân khu (1/2000- 1/5000), mức độ chi tiết còn hạn chế; chủ
yếu cập nhật những nội dung cơ bản từ quy hoạch chung đô thị (1/1000-1/25.000).
Vì vậy, thiếu các giải pháp cụ thể cho từng khu vực như khu vực đô thị hiện
hữu, khu vực đô thị mới, các giải pháp ổn định nền tránh lún sụt, khu vực hạn
chế, chưa xây dựng.
Mặt khác, căn cứ để xác định cao độ nền xây dựng đô thị ứng phó
biến đổi khí hậu, nước biển dâng là đường tần suất lũ, việc xác định cần phải
có chuỗi số liệu quan trắc mưa, thủy văn liên tục trong ít nhất 10 năm và lâu
hơn. Tuy nhiên, hiện nay đối với các đơn vị lập quy hoạch cao độ nền, việc tiếp
cận các tài liệu này còn hạn chế hoặc không có số liệu, dẫn đến thiếu chính xác
khi dự báo cao độ nền các khu vực đô thị khiến nhiều khu vực bị ngập úng như
khu Ngoại Giao Đoàn, đô thị Văn Quán...
Cùng với đó là việc cung cấp thông tin quy hoạch, kiểm tra giám
sát triển khai thực hiện còn nhiều bất cập, thiếu phối hợp giữa các cơ quan
quản lý về xây dựng, ban quản lý dự án, cấp phép... Về cao độ nền của các dự
án, khu vực lân cận với quy hoạch cấp cao hơn về kết nối hạ tầng trong, ngoài
hàng rào các khu đô thị mới và khu hiện hữu xung quanh. Cụ thể, Khu Royal City
có cao độ nền cao hơn các khu vực dân cư hiện hữu.
Như vậy, rõ ràng đô thị hiện nay đang có sự vênh nhau về cao độ
nền xây dựng. Hiện Viện Quy hoạch Xây dựng Hà Nội là đơn vị cung cấp cốt nền
xây dựng, Sở Quy hoạch – Kiến trúc có trách nhiệm thẩm định. Hai đơn vị này sẽ
có những phản ứng như thế nào về vấn đề này? Trách nhiệm thuộc về ai?

0 nhận xét
Đăng nhận xét